Ngày đăng

Nguyên nhân, dấu hiệu thoát vị đĩa đệm – Cách phòng và điều trị thoát vị đĩa đệm

thoai hoa dot song co thoat vi dia dem dot song co

Theo thống kê của Bộ Y tế thì có tới hơn 17% người lớn hơn 60 tuổi bị đau lưng, và trong số đó rất nhiều người bị đau lưng là do thoát vị đĩa đệm. Bệnh thoát vị đĩa đệm gây nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt và vận động của người bệnh, có trường hợp có thể gây tàn phế.

Đông Y Họ Phạm chúng tôi cũng đã gặp rất nhiều trường hợp mắc thoát vị đĩa đệm, nhưng để tìm ra một giải pháp điều trị phù hợp là điều khó khăn. Một bệnh nhân thực tế chúng tôi gặp. Cô Thanh Mai 56 tuổi, quê ở Thanh Hóa, mắc thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng L3 – L5, nhưng vì công việc đồng áng làm suốt ngày nên việc chữa trị gặp nhiều trở ngại. Rồi duyên đến, Cô tìm ra sản phẩm Long Cốt Tiên, Cô sử dụng thấy hiệu quả và đã quyết định tiếp tục sử dụng. Xem chi tiết: “Cô Thanh Mai – chia sẻ về hành trình điều trị thoát vị đĩa đệm gian nan”

Dưới đây là bài viết chia sẻ về kiến thức bệnh thoát vị đĩa đệm. Hy vọng sẽ là thông tin hữu ích với nhiều người.

 

1. Thoát vị đĩa đệm là gì?
Có thể hiểu thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy trong đĩa đệm bị thoát ra khỏi vị trí bình thường của cấu tạo đĩa đệm. Quá trình thoát vị của nhân nhầy có thể gây chèn ép và ống sống và rễ thần kinh sống gây tình trạng đau lưng …

Có thể tìm hiểu quá trình gây thoát vị đĩa đệm như sau: Khi bình thường đĩa đệm nằm giữa hai khe đốt sống, có nhân nhầy ở giữa được bọc bởi vỏ sợi. Đĩa đệm có tác dụng giúp giảm sóc và giảm chất thương ảnh hưởng cột sống. Khi có một hay nhiều nguyên nhân ngoại lực tác động vào cột sống có thể gây rách đĩa đệm và chất nhày thoát ra bên ngoài, chui vào ống sống và chèn ép rễ thây kinh gây đau. Tùy từng vị trí chèn ép rễ thần kinh mà có vị trí đau khác nhau.

2. Nguyên nhân bệnh thoát vị đĩa đệm là gì?
– Quá trình thoái hóa tự nhiên làm đĩa đệm cột sống bị mất đi một lượng dịch làm cho đĩa đệm kém linh hoạt do đó dễ bị rách và sưng tấy. Lão hóa của tuổi tác phổ biến ở tuổi trung niên đặc biệt từ 35 đến 45 tuổi liên quan đến thoát vị đĩa đệm.

– Quá trình vận động sai tư thế trong lao động và sinh hoạt có thể làm cho cột sống vận động quá giới hạn, công việc lao động nặng, tư thế làm việc ít vật động đứng nhiều hoặc ngồi nhiều ở cùng một tư thế … làm tăng nguy cơ bệnh thoát vị đĩa đệm.

– Tình trạng béo phì, cân nặng dư thừa làm tăng quá trình chịu đựng của trọng lượng cơ thể, gây ảnh hưởng cột sống và các đĩa đệm.

– Một nguyên nhân khác có thể kể đến đó là tình trạng ăn uốn thiếu dinh dưỡng, sử dụng thuốc lá nhiều làm giảm chất dinh dưỡng có trong các mô của cơ thể.

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

3. Triệu chứng bệnh thoát vị đĩa đệm

Cơn đau thắt lưng và biểu hiện tê nhức từ vị trí lưng xuống mông và chân hoặc tê nhức từ vùng cổ ra bả vai và cánh tay, bàn tay, giảm lực cơ tay, đau tăng khi vận động bàn tay. Điều này là do từng vị trí bị thoát vị đĩa đệm và nhân nhầy chèn ép các rễ thần kinh. Quá trình đau tăng khi cúi, vận động cột sống, hắt hơi…
Cảm giác như kim châm tại vùng đau hoặc kiến bò. Đau có thể diễn ra thường xuyên nếu tình trạng bệnh kéo dài.
Trường hợp riêng của thoát vị đĩa đệm cột sống lưng: Có triệu chứng đau vùng thắt lưng, đau cả khi ho và đại tiện hoặc nằm nghiêng. Cảm giác đau vùng cột sống lưng và lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực dọc theo khoang liên sườn. Quá trình đau, tê, mất cảm giác có thể lan xuống mông, chân, bàn chân ngón chân. Trường hợp nặng có thể bị liệt.
4. Ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt vận động của người bệnh, làm giảm khả năng vận động rõ rệt của bệnh nhân.

Với trường hợp thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ gây tổn thương thần kinh cách tay, bệnh nhân không thể nhấc tay lên được, khó gập duỗi, ảnh hưởng đến sinh hoạt.

Trường hợp thoát vị đĩa đệm chèn ép dây thần kinh tọa ảnh hưởng đau lan mông, đùi, chân, bàn chân, ngón chân, có thể không nhấc được gót hoặc mũi chân lên được hoặc dẫn đến teo cơ, mất kiểm soát cảm giác chân.

Đối với các trường hợp thoát vị đĩa đệm ở tình trạng nặng có thể có nhiều nguy cơ tàn phế cao. Trường hợp thoát vị chèn ép dây thần kinh vùng thắt lưng có thể dẫn đến tình trạng không tự chủ tiểu tiện và rối loạn cơ tròn. Quá trình teo cơ nhanh chóng có thể diễn ra và mất khả năng lao động, điều trị phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần và sinh hoạt của bệnh nhân.

5. Cách phòng và điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm

a. Điều trị bảo tồn:

Cách điều trị bảo chủ yếu là dùng thuốc để làm giảm đau cho bệnh nhân.

Một số thuốc hay dùng như:

Thuốc giảm đau: Nếu đau nhẹ đến trung bình có thể uống aspirin, Ibuprofen, paracetamol. Các thuốc NSAIDs có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa ở liều cao.

Thuốc giãn cơ: ví dụ Diazepam… ngoài tác dụng làm giãn cơ trơn thì thuốc còn có tác dụng phụ có thể sẽ gây chong mặt ở một số bệnh nhân.

Nếu cơn đau không giảm thì kê các thuốc nhóm opiat( ví dụ codein) kết hợp với paracetamol sử dụng trong một thời gian ngắn để cắt cơn đau.

Nghỉ ngơi tại giường nếu cơn đau lưng diễn ra liên tục.

Phẫu thuật:

Có đến khoảng 10% bệnh nhân thoát vị đĩa đệm phải dùng đến cách phẫu thuật can thiệp. Hoặc sau khoảng 6 tuần điều trị theo phương pháp bảo tồn nhưng bệnh nhân vẫn thấy đau như cũ.

Phẫu thuật sẽ được chỉ định theo tư vấn của bác sỹ.

b. Điều trị theo Đông Y

Thoát vị đĩa đệm được coi là một bệnh mạn tính vì vậy mà việc sử dụng thuốc Tây y kéo dài sẽ gây ra nhiều tác dụng phụ đến người sử dụng. Bệnh nhân nên có một giải pháp điều trị mang lại hiệu quả và an toàn, không tác dụng phụ.

Chúng ta nên biết cấu tạo của ổ khớp cột sống: Tại đây không có một mạch máu nào xuyên qua nên con đường thuốc tác dụng trực tiếp đưa đĩa đệm về vị trí ban đầu là không có, thuốc/sản phẩm được hấp thu vào vị trí thương tổn thông qua thẩm thấu khuếch tán qua các màng của các lớp của vòng sợi và màng của tấm sụn tận cùng. Một khi đĩa đệm bị tổn thương thì những phần xung quanh trong ổ khớp cũng bị tổn thương. Để đĩa đệm quay trở lại vị trí ban đầu cần phải bồi bổ ổ khớp cũng như cơ thể khỏe mạnh để ổ khớp bao bọc lấy đĩa đệm, giúp đĩa đệm dần trở về vị trí ban đầu.

Phép trị chủ yếu: bổ can thận, bổ khí huyết, bổ sung sụn khớp, khu phong tán hàn trừ thấp.

Bài thuốc: Tục đoạn, Ngưu tất, Đương quy, Hoàng kỳ, Tang ký sinh, Dây đau xương, Thiên niên kiện, Quy bản, Kỷ tử.

Tác dụng bài thuốc:

– Bổ can thận làm hệ cột sống chắc khỏe Can chủ gân Thận chủ cốt tủy. Gân cốt khỏe mạnh bao bọc lấy đĩa đệm, dần giúp đĩa đệm quay trở về vị trí ban đầu, đây là gốc trị bệnh.

– Bổ khí huyết: Khí huyết được lưu thông, gân cơ xung quanh cột sống được nuôi dưỡng, giảm ứ trệ, giúp giảm đau.

– Bồi bổ sụn khớp: Sụn khớp hai bên đĩa đệm được tái tạo, bổ sung thêm dịch nhầy giúp khớp cử động dễ dàng không bị cọ xát gây tổn thương vào đĩa đệm gây đau.

– Khu phong tán hàn trừ thấp nhằm loại bỏ các ngoại tà như phong, hàn, thử, thấp xâm nhập vào kinh lạc gây ứ trệ khí huyết lưu thông gây đau nhức khắp cơ thể, ngoài ra thư cân dãn cơ làm các khớp vận động dễ dàng.

c. Chế độ phòng ngừa:

Để phòng ngừa bệnh thoát vị đĩa đệm mỗi người nên có một thói quen tập luyện thể dục thường xuyên và hợp lý. Thể dục có thể làm chậm sự thoái hóa của đĩa đệm và cơ bắp khỏe hơn, từ đó cột sống sẽ ổn định hơn trong quá trình điều trị.
Nên có sự tham gia tư vấn về chế độ phòng ngừa của bác sỹ đối với bệnh của từng người.
Tư thế vận động, sinh hoạt, làm việc đúng, khoa học, tránh làm hảnh hưởng đến cột sống, và áp lực lên cột sống đĩa đệm như: ngồi thẳng lưng, không đứng/ ngồi quá lâu trong một thời gian dài. Ngoài ra cần lưu ý nâng vác đúng cách.
Có một trọng lượng cơ thể ở mức phù hợp, giảm béo phì, không để xảy ra tình trạng thừa cân béo phì nhưng vẫn phải đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng.
Bỏ thói quen hút thuốc lá và thói quen xấu ảnh hưởng đến sức khỏe khác.
Nên chườm ngải cứu vào khớp bị tổn thương: Ngải cứu rửa sạch (1 mớ lớn) để ráo nước, sao nóng, bọc khăn và dùng chườm vào vị trí khớp bị đau (nếu có điều kiện dùng túi chườm nóng đặt lên ngải cứu để duy trì nhiệt độ) từ 30 – 40 phút/lần. Ngày 1 lần vào buổi tối, thực hiện liên tục từ 15-30 ngày giúp tăng cường lưu thông máu, trừ hàn thấp, giảm đau.
Tác giả: Ths. Bs Phạm Đắc Cao – Trưởng Khoa Đông y và Phục hồi chức Năng Bệnh viện 115 – Nghệ An.