Ngày đăng

Viêm khớp dạng thấp và cách điều trị viêp khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là tình trạng viêm mạn tính các khớp được đặc trưng bởi viêm nhiều khớp đối xứng, thường kèm theo dấu hiệu cứng khớp vào buổi sáng và sự có mặt của yếu tố dạng thấp trong huyết thanh.

Viêm khớp dạng thấp có thể để lại nhiều biến chứng phức tạp, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và sinh hoạt: Đau, teo cơ, biến dạng, mất khả năng vận động, thậm chí tàn phế.; Rối loạn hệ miễn dịch; Ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác như tim, phổi …

viem khop vai

Đã có rất nhiều bệnh nhân gửi những lời yêu cầu tư vấn về căn bệnh này, đặc biệt là trường hợp của bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp 11 năm, đã đi khám ở rất nhiều bệnh viện, chạy chữa ở nhiều nơi nhưng không thuyên giảm. Và rồi bệnh nhân đó đã tìm ra phương thuốc phù hợp cho chính bản thân mình và tin tưởng điều trị.

Sau đây Đông Y Họ Phạm xin chia sẻ tới quý bạn đọc kiến thức cơ bản về bệnh viêm khớp dạng thấp. Hy vọng đây sẽ là thông tin hữu ích với nhiều người !!!
NGUYÊN NHÂN VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Nguyên nhân viêm khớp dạng thấp

♦ Yếu tố nhiễm khuẩn:

Một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi (như cơ thể suy yếu, mệt mỏi, chấn thương…) hoặc yếu tố môi trường (lạnh, ẩm kéo dài) dễ gây khởi phát bệnh.
Khi cơ thể có sự xâm nhập của những tác nhân này, một phản ứng tự nhiên trong cơ thể là bạch cầu – yếu tố bảo vệ của cơ thể sẽ chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, virus di chuyển từ máu vào trong màng bao quanh khớp. Các tế bào bạch cầu này sẽ gây các phản ứng viêm tại khớp do việc tạo ra các chất gây viêm như TNF- alpha, protein.
Theo năm tháng, tình trạng viêm đó sẽ làm tổn thương sụn, xương, gân và dây chằng ở gần khớp và sau đó sẽ làm biến dạng khớp.
♦ Yếu tố di truyền: Từ lâu người ta nhận thấy bệnh viêm khớp dạng thấp có tính chất gia đình, nhiều nghiên cứu về cha mẹ những người mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao hơn hai đến ba lần so với tỷ lệ của cha mẹ bình thường.

♦ Do cơ địa: Bệnh có liên quan tới giới tính và tuổi tác.

Ở những người từ 30 tuổi trở lên thì đã có nguy cơ mắc các bệnh về xương khớp, đối với phụ nữ đặc biệt là qua thời kì mãn kinh, bệnh xương khớp cụ thể là viêm khớp dạng thấp mắc khá nhiều, tỉ lệ khoảng 60-70%.
Ở nữ tỉ lệ mắc các bệnh xương khớp cao gấp 2-3 lần nam giới.
Một phần khác do tuổi tác, tuổi càng cao thì xương khớp hoạt động kém bền bỉ, dẻo dai hơn trước do quá trình lão hóa cơ thể diễn ra một cách mạnh mẽ.
♦ Do các yếu tố môi trường: dường như rất quan trọng, tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ không cho phép khẳng định điều này. Mặc dù bệnh thường gặp ở các vùng lạnh và ẩm, song không có bằng chứng nào thật sự khẳng định điều này. Không có sự khác biệt về tỷ lệ bệnh giữa các vùng miền núi hay thành thị, hoặc giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau.
TRIỆU CHỨNG VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Triệu chứng điển hình viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp thường rất khó phát hiện, ở mỗi người thì bệnh biểu hiện ở một mức độ khác nhau và có khi chỉ xảy ra viêm một thời gian rất ngắn xong rồi lại tự khỏi nên người bệnh có thể không để ý dẫn đến bệnh ngày càng phát triển âm thầm.

♦ Đặc điểm điển hình:

Tính chất của phản ứng viêm: Sưng, Nóng, Đỏ, Đau.

Vị trí: các khớp nhỏ như bàn tay, cổ tay, ngón chân, ngón tay, khớp gối…Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, các khớp xuất hiện tổn thương sớm nhất là khớp cổ tay (50-60%), khớp bàn ngón tay, khớp gối gặp với tỷ lệ tương đương là 10-15%. Những khớp như khớp vai, khớp khuỷu hiếm khi gặp ở giai đoạn khởi phát đầu tiên (2,4%). Viêm khớp thường đối xứng hai bên.

Ngoài ra có thể có thêm cứng khớp, khó cử động khớp vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy. Thời gian kéo dài bao lâu thì tùy ở từng người.

Người xanh xao, mệt mỏi, kém ăn, gầy sút.

♦ Một số các triệu chứng khác:

Hạt dưới da: có thể có 1 hoặc nhiều hạt. Vị trí xuất hiện là ở trên xương trụ gần khuỷu, trên xương chày gần khớp gối hoặc quanh các khớp nhỏ ở bàn tay. Tính chất các hạt: chắc, không di động, không đau, không bao giờ vỡ. Ở Việt Nam thì rất ít khi gặp các hạt này (chỉ khoảng 4% bệnh nhân có hạt dưới da).

Các cơ cạnh khớp teo do giảm vận động: có thể gặp triệu chứng viêm gân, đôi khi có đứt gân. Các dây chằng thường có thể co kéo hoặc lỏng lẻo.

Một số biểu hiện nội tạng ít gặp.

♦ Tim: Cơ tim bị tổn thương có thể viêm ở ngoài màng tim.

♦ Phổi: Viêm màng phổi nhẹ, xơ phế nang.

♦ Ngoài ra còn có: Viêm giác mạc, viêm mống mắt, đè ép các dây thần kinh ngoại biên, thiếu máu nhược sắc, rối loạn thần kinh thực vật, nhiễm Amyloid có biểu hiện chủ yếu ở thận, thường xuất hiện rất muộn.
►► Ở những người mắc bệnh ở giai đoạn đầu hay còn gọi là giai đoạn khởi phát thì khoảng 85% không phát hiện ra là bản thân mắc phải bệnh viêm khớp dạng thấp vì biểu hiện của bệnh rất âm thầm và diễn ra theo từng đợt. Chính vì thế, nếu người bệnh để ý, theo dõi sức khỏe của mình thì sẽ khả năng chữa bệnh sẽ nhanh và hiệu quả hơn.

►► Ở những người mắc bệnh ở giai đoạn sau hay còn gọi là giai đoạn toàn phát thì các biểu hiện diễn biến rầm rộ hơn, bắt đầu xuất hiện tổn thương và bào mòn ở sụn khớp và đầu xương. Nếu không được điều trị, sụn khớp và đầu xương ngày càng bị tổn thương, lâu ngày các đầu xương dính với nhau gây biến dạng khớp, cứng khớp và khả năng vận động của khớp bị mất đi.

———————————————————————————————————————-

TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Cận lâm sàng:

Tốc độ máu lắng: tăng trong các đợt tiến triển, mức độ thay đổi của tốc độ máu lắng phụ thuộc tình trạng viêm khớp.

Tăng các protein viêm: fibrin; fibrinogen;

Thiếu máu hồng cầu ở giai đoạn đầu, thường kèm theo triệu chứng giảm sắt huyết thanh, tăng ferritin và tình trạng thiếu máu không đáp ứng với điều trị sắt song được cải thiện khi điều trị viêm khớp.

Yếu tố dạng thấp (RF) dương tính trong 60 – 70 % bệnh nhân.

Anti CCP dương tính trong 75 – 80 % bệnh nhân.

Xquang khớp (thường chụp hai bàn tay thẳng hoặc các khớp bị tổn thương).

X-quang chẩn đoán hình ảnh

Phù nề tổ chức phần mềm quanh khớp: hậu quả của viêm bao hoạt dịch cấp. Tuy nhiên, tổn thương này không đặc hiệu.

Mất chất khoáng phần đầu xương cạnh khớp: gây ra do ít vận động và xung huyết từng vùng xương, có thể còn do vai trò của yếu tố gây viêm. Biểu hiện là các bè xương thô, vỏ xương trở nên mỏng và xương tăng thấu quang.

Tổn thương bào mòn xương: là những tổn thương dạng khuyết xuất hiện tại bờ rìa khớp, bề mặt khớp. Hình ảnh bào mòn tại bờ rìa khớp là loại dễ phát hiện nhất, là tổn thương đặc hiệu trong bệnh viêm khớp dạng thấp, là một trong những các tiêu chuẩn đoán bệnh theo ACR. Tổn thương này phát hiện trên cộng hưởng từ, X quang, cả trên siêu âm.

Hẹp khe khớp: khoảng cách giữa các đầu xương tạo nên diện khớp bị hẹp lại, đây là triệu chứng phổ biến gây nên bởi sự phá hủy sụn khớp. Khe khớp hẹp đồng đều, mép vỏ xương dưới sụn còn nguyên vẹn, điều này giúp phân biệt với viêm khớp nhiễm khuẩn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán ACR-1987

Thời gian cứng khớp: buổi sáng kéo dài trên một giờ.

Viêm ít nhất 3 trong 14 khớp sau: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay.

Có tính chất đối xứng.

Hạt dưới da.

Yếu tố dạng thấp huyết thanh (kĩ thuật đạt độ đặc hiệu 95%) dương tính.

X-quang điển hình ở khối xương cổ tay (hình bào mòn, mất chất khoáng đầu xương).

Thời gian diễn biến của bệnh ít nhất phải từ 6 tuần

⇒ Chẩn đoán xác định khi có ít nhất 4 trong số 7 yếu tố.